Mô hình nhân cách thiên sứ: Từ tư tưởng cứu thế Nga đến văn học
- ĐHKHXH&NV HN CLB Điện Ảnh
- Nov 2, 2021
- 26 min read
Phạm Gia Lâm
* PGS. TS, Trường ĐH KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt: Từ góc nhìn nhân học Kitô giáo, bài viết xác định hạt nhân quan niệm nhân cách là tư tưởng Cứu thế với sự tương tác và thống hợp các nhân tố tinh thần, tâm hồn và thể xác, dưới ảnh hưởng vượt trội của nhân tố tinh thần. Hiển thị của sự thống hợp đó là Chúa Ba Ngôi, mang nhân cách-thánh thể (personality-hypostasis), với những phẩm chất đức tin, lòng dũng cảm, sự tận tâm, hỉ xả. Tham chiếu các phiên bản của tư tưởng Cứu thế Nga và quan niệm triết học-tôn giáo của N.Berdyaev coi đặc trưng của tâm hồn Nga là Tính Nữ gắn với tâm trạng khải huyền, bài viết truy tìm và giải thích cơ chế thông diễn mô hình nhân cách-thánh thể trong văn học cổ điển Nga qua kiểu nhân vật nữ-thiên sứ. Chính mô hình nhân cách-thánh thể góp phần định tính mô thức văn học cổ điển Nga, trong đó tinh thần ưu thắng so với vật chất, hiện thực mang tính chất mặc khải, nhân vật chính bị giải thiêng, nhân vật phụ cứu vớt tất cả, sứ mệnh cứu thế của bản nguyên nữ được nhấn mạnh.
Từ khóa: nhân học Kitô giáo, tư tưởng/thuyết Cứu thế, nhân cách, nhân cách-thánh thể, Tính nữ Vĩnh hằng, nữ-thiên sứ, văn học cổ điển Nga, nhân vật chính, nhân vật phụ
Abstract: From the perspective of Orthodox Anthropology, this paper defines the human personality as messianism with the interaction and integration of spiritual and physical factors in which the spiritual factor has a great influence. That integration was embodied in the Trinity - a personality-hypostasis with qualities such as faith, courage, devotion and equanimity. Referring to the versions of Russian messianism and the philosophic-religious conception of N.Berdyaev that depict femininity with apocalyptic state as a characteristic of Russian soul, I look for and explain the interpretive mechanism of a model of personality-hypostasis in Russian classical literature through female-messianic characters. The personality-hypostasis model constructs the model of Russian classical literature, in which the moral surpasses physical factors, reality is the revelation, the protagonist is deconsecrated, the secondary/peripheral character rescues all, the mission of the salvation of the female is emphasized.
1.Khái niệm nhân cách trong tâm lý học và nhân học Kitô giáo
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhân văn như triết học, xã hội học, tâm lý học,… Xét về phương diện từ nguyên, từ nhân cách trong tiếng Anh là personality bắt nguồn từ tiếng Latin persona, có nghĩa là chiếc mặt nạ mà các diễn viên thường đeo khi trình diễn trên sân khấu cổ đại. Vì thế, khái niệm nhân cách phản ánh hình ảnh bên ngoài xã hội của một người có vai trò nhất định trong cuộc sống. Nhưng những biểu hiện bề ngoài của nhân cách lại được chế định bởi những quá trình bên trong, được hình thành qua quá trình phát triển cá tính và kinh nghiệm sống của con người. Nhân cách trong tiếng Nga là личность gần với khái niệm khuôn mặt (лицо, vì thế mà có người dịch sang tiếng Việt là bản diện[ Trong cuốn: N.A.Berdyaev (2015), Con người trong thế giới tinh thần, NXB Tri thức, Nguyễn Văn Trọng dịch личность thành bản diện cá nhân (?!). ]) và mặt nạ (личина), tức liên quan đến biểu hiện bề ngoài của tâm lý hơn là quá trình tâm lý bên trong.
Trong tâm lý học, có lẽ không có khái niệm nào phức tạp và gây nhiều tranh luận như khái niệm nhân cách. Hơn một thế kỷ qua, mỗi một trường phái tâm lý lại giải thích khái niệm này theo cách riêng. Cũng vì tính chất phức tạp của khái niệm nên cho đến nay người ta chỉ có thể nói rằng nhân cách là sự tập hợp toàn bộ những đặc tính của cá nhân thành một cấu trúc thống nhất trong khi vẫn bảo toàn tính ổn định, còn mọi sự biến đổi là do thích ứng với sự biến đổi của môi trường sống. Con người, với tư cách là một nhân cách luôn phát triển và hoàn thiện trong quá trình giáo dục.
Tuy có những khác biệt trong quan niệm về nhân cách nhưng giới tâm lý học thế giới nói chung đều thống nhất đặt nhân cách trong mối liên hệ với cá nhân, cá tính, con người để đưa ra định nghĩa nhân cách từ góc độ tâm lý học như sau: “Nhân cách của con người là một tổ hợp những đặc điểm tâm lý độc đáo riêng biệt, tương đối bền vững, phản ánh những khuynh hướng xã hội nơi nó hình thành và quy định nên thái độ đặc trưng của một con người đối với bản thân, xã hội và thế giới nói chung”[ Xem: М.И.Еникеев (1999), Общая и социальная психология, Москва, C.178.].
Nhân học Kitô giáo xem xét nhân cách trong sự thống nhất của các biểu hiện tinh thần, tâm hồn và thể xác. Sự thống nhất này chỉ có được trong điều kiện ảnh hưởng vượt trội của lĩnh vực tinh thần. Trong văn cảnh truyền thống Kitô giáo, khái niệm nhân cách con người rộng lớn hơn và vượt lên trên khái niệm cá nhân. Theo đó, một trong những vấn đề cơ bản của thần học Kitô giáo là vấn đề nhân cách của Đức Chúa Trời, gắn bó hữu cơ với vấn đề bản chất của Kitô giáo. Nhà thần học người Nga, Đức Giám mục Mikhail Gribanovsky đã viết: “Định nghĩa Chúa như là một nhân cách là định nghĩa tuyệt vời nhất mà trí tuệ con người đạt tới khi tìm cách xác định Chúa”[ Dẫn theo: Ю.М.Зенько (2009), Основы христианской антропологии и психологии, СПб.: Речь, http://www.xpa-spb.ru/slov/].
Theo Tân ước, Chúa là một nhân cách sống chứ không phải là một lực lượng siêu nhân hoặc một nguyên lý trừu tượng. Nhưng Chúa không chỉ là (một) nhân cách mà có ba nhân cách. Kitô giáo Chính thống tuyên xưng một Thiên Chúa trong Ba Ngôi (ba nhân cách, hay ba Thánh thể/Thân vị). Chúa Cha là một nhân cách, như Mathew nói với tín đồ: “Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo”[ Kinh Thánh. Trọn bộ Cựu ước và Tân ước, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.1852-1853.]; Nhân cách Chúa Con được nhận diện khi “đã trở nên người phàm, (…) được Chúa Cha ban cho vinh quang (…) là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật”[ Như trên, tr. 1999.]. Chúa Thánh Thần cũng tồn tại như một nhân cách độc lập, chẳng hạn, ông giáo huấn các tông đồ mọi sự thật và báo hiệu tương lai “Đấng Bảo Trợ sẽ đến”[ Như trên, tr. 2000, 2031.]. Từ sự hợp nhất ba nhân cách trong Chúa, Kitô giáo đưa ra khái niệm hypostasis, có thể dịch là thánh thể hoặc thân vị.
Thần luận Kitô giáo dùng thuật ngữ nhân cách-thánh thể (личность-ипостась/personality-hypostasis) trước hết là để trỏ nhân cách của thần linh chứ không phải nhân cách của con người (sau này mới có). Khái niệm thánh thể lấy từ văn bản Kinh Thánh. Còn trong Tân ước, từ hypostasis mang những nghĩa khác nhau, được dịch sang tiếng Nga bằng những từ sự vững tâm (уверенность), lòng dũng cảm (отважность), cuộc sống (жизнь), sự thực thi (осуществление). Nhưng còn có điểm hết sức quan trọng của từ này về phương diện thần học, được ghi trong Tân ước: “Thuở xưa, nhiều lần, nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. (…). Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực (hypostasis: thánh thể - PGL) của bản thể Thiên Chúa. (...). Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên Đấng Cao Cả trên trời”[ Kinh Thánh. Trọn bộ Cựu ước và Tân ước, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.2229.].
Thực ra khái niệm hypostasis gốc Hy Lạp thường được hiểu và dịch không thống nhất do ngay trong các ngôn ngữ cổ Hy Lạp và Latin, việc phân tách các từ nhân cách (hypostasis) và bản chất (bản thể) không rạch ròi. Theo Từ điển giải thích hiện đại[ Современный толковый словарь изд, “Большая Советская Энциклопедия”, http://www.classes.ru/all-russian/russian-dictionary-encycl-term-14853.htm], từ hypostasis bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là bản chất, cơ sở. Trong Kitô giáo, thuật ngữ hypostasis bắt đầu được sử dụng trong nghiên cứu Kinh Thánh, với nghĩa “hình thức biểu hiện”, “phương thức tồn tại”, để trỏ mỗi một thân vị trong Chúa Ba ngôi. Còn từ nhân cách (личность) có thể phân thành vài cấp độ: cao cả, thiêng liêng gắn với diện mạo (лик) của thánh nhân, thường hướng lên trời, đến với Đức Chúa; tầm trung - khuôn mặt (лицо) phản ánh phương diện xã hội, hướng đến những người khác và cấp thấp - mặt nạ (личина) hướng xuống đất, đến cái trần tục, xác thịt. Nhân cách-thánh thể (личность-ипостась) dĩ nhiên gắn với cấp độ cao.
Những nhân cách đích thực - hypostases, chỉ có ở Jesus Christ. Khi con người không dâng mình cho Chúa thì nó không thể có cái “tôi” đích thực của mình. Vì vậy trên bình diện thần luận Kitô giáo, sẽ là không đúng nếu chỉ hiểu nhân cách như là cá nhân với những thuộc tính độc đáo, riêng biệt về mặt sinh học, tâm lý và xã hội. Tính độc đáo trong nhân cách con người theo quan niệm của Kitô giáo không phải ở bản tính cá nhân mà ở thái độ cá nhân của mỗi con người đối với Chúa. Do vậy, đối với con người, điều quan trọng không chỉ là sự giao tiếp với người khác mà còn là sự hiệp thông với Chúa. Thái độ của con người đối với Chúa cũng ảnh hưởng hưởng đến thái độ của nó đối với người khác và đối với gia đình.
Theo quan điểm Kitô giáo, xét trong quan hệ với nhau và quan hệ đối với thế giới, nhân cách, nói đầy đủ là nhân cách-thánh thể được xác định qua tính độc lập và tính riêng biệt của nó. Các thánh thể không nằm trong nhau mà mỗi một thánh thể là một thể riêng rẽ, nghĩa là được tạo dựng riêng biêt. Bởi vì chúng tách biệt về vị trí và khác nhau về thời gian nên cũng khác nhau về sức mạnh, trí tuệ, ngoại hình, có nghĩa là khác nhau về hình thức, trạng thái, tính khí, phẩm giá, cách sống, về tất cả những đăc điểm tính cách.
Từ tất cả những điều đã trình bày ở trên về quan niệm nhân cách trong nhân học Kitô giáo, chúng ta có thể lưu ý 3 điểm như sau: 1) Kitô giáo quan tâm đến từng nhân cách, từng con người chứ không phải đến các nhóm, các giai cấp, hoặc thậm chí đến toàn nhân loại; 2) Việc đồng nhất nhân cách và thánh thể, hay có thể nói kiểu nhân cách-thánh thể (personality-hypotasis) là bậc cao nhất của nhân cách, biểu hiện tập trung ở nhân cách Chúa Ba Ngôi; đó là mô hình lý tưởng hướng tới của con người, với tư cách là hình ảnh của Chúa; 3) Con người với tư cách là hình ảnh của Chúa, trong quan hệ với Chúa và với những người xung quanh, noi theo “Đức được xức dầu”, tức Đấng Cứu thế, thể hiện những phẩm chất của nhân cách-thánh thể về đức tin, lòng dũng cảm, sự tận tâm, đức hi sinh đã được ghi trong những điều răn ở Kinh Thánh.
Dưới đây chúng tôi sẽ xem xét cơ chế thông diễn mô hình nhân cách-thánh thể qua kiểu nhân vật nữ-thiên sứ trong văn học cổ điển Nga.
2. Kiểu nhân vật nữ-thiên sứ trong văn học Nga
Tư tưởng Cứu thế Nga là một “huyền thoại dân tộc” bền vững nhiều thế kỷ, với các dạng tư tưởng về dân tộc cứu độ, tư tưởng về dân tộc được chọn và nó có những hình thức biểu hiện đa dạng ở những giai đoạn phát triển khác nhau của nhà nước Nga, có ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống Nga, từ kinh tế, chính trị, đạo đức đến nghệ thuật, chẳng hạn như trong hội họa (Alexandr Ivanov), điện ảnh (Andrey Tarkovsky), văn học (A.Pushkin, N.Gogol, Dostoevsky, Blok, A.Belyi,…). Riêng trong lĩnh vực văn học, tư tưởng Cứu thế được thể hiện qua các hình tượng nhân vật mang những đặc điểm nhân cách thiên sứ.
Có một thực tế là khi nói về tâm hồn Nga, bản sắc dân tộc Nga trong văn học, trước hết người ta nhớ ngay đến các nữ nhân vật Tatyana Larina (Evgeni Onegin), Natasha Rostova (Chiến tranh và hòa bình), Sonya Marmedova (Tội ác và hình phạt),… Vì sao trong văn học cổ điển Nga, những nhân vật nữ lại có vai trò đặc biệt, bất luận chúng là nhân vật chính hay phụ trong tác phẩm, thường được nhà văn khắc họa như là “người được chọn”, “người cứu độ”, là hiện thân của kiểu nhân cách-thánh thể? Vậy bản sắc Nga có liên quan như thế nào với kiểu nhân cách-thánh thể, và vì sao thường được thông diễn qua kiểu nhân vật nữ-thiên sứ trong văn học cổ điển Nga?
Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết, chúng tôi chú ý đến một luận điểm quan trọng của nhà triết học tôn giáo Nga Nikolai Berdyaev coi Tính Nữ gắn với tâm trạng khải huyền như là đặc trưng của tâm hồn Nga[ Trong bài “Về “cái tính nữ-muôn đời” trong tâm hồn Nga” (1915), N.Berdyaev cho rằng “(…) tâm trạng khải huyền Nga có thiên hướng mạnh mẽ của thụ động, của chờ đợi, của nữ tính. Ở đây thể hiện đặc điểm đặc trưng của tinh thần Nga”.
Xem: Бердяев Н. Л. (1994), “О “вечно бабьем” в русской душе, Философия творчества, культуры, искусства: в 2 т., М., 1994. Т.2. С. 300. ].
Việc xác định bản sắc Nga, về mặt nguyên tắc, cần phải căn cứ vào nhận thức về thuộc tính Nga, trong đó nền tảng giá trị cơ bản là những lý tưởng đạo đức Chính thống giáo. Trong hơn mười thế kỷ, Kitô giáo chính thống đã nuôi dưỡng, đào luyện nên tính cách con người Nga, dạy cho họ cách nhận thức về thế giới xung quanh và ý nghĩa cuộc sống của mình trên cơ sở coi tâm hồn con người lớn hơn tất thảy. Quan điểm giá trị này thể hiện ở nhiều tín điều Kitô giáo, chẳng hạn như trong Phúc Âm Mathew: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi”[ Kinh Thánh, sđd, tr.1853]. Thế giới quan Chính thống giáo “coi trọng những kho tàng trên trời” là một tác tố ảnh hưởng đến thái độ chú mục vào thế giới nội tâm của con người - một nhiệm vụ trọng tâm của văn học, đồng thời cũng tạo nên đặc điểm hệ hình tư duy của văn học Nga, thể hiện trong quan hệ giữa sự kiện (факт/fact) và sự thật (истина/true), vai trò chính-phụ của các nhân vật gắn với hiện tượng Tính Nữ Vĩnh Hằng. Nhưng trước hết cần làm rõ khái niệm Tính nữ Vĩnh hằng và vai trò đặc biệt quan trọng của nó trong diễn ngôn của các nhà cổ điển Nga.
Tính nữ Vĩnh hằng[ Về nội dung khái niệm Tính nữ Vĩnh hằng, chúng tôi dựa vào cuốn Литературная энциклопедия терминов и понятий. Xem: Nikolyukin và cộng sự 2001: 119-121] hay Tính nữ muôn đời có nguồn gốc từ tiếng Đức - Ewig-Weibliche do lần đầu tiên được Goethe sử dụng ở những dòng cuối cùng của Faust: “Những Gì Chóng Qua Đi/Đều chỉ là biểu tượng/Cái Không Được Vẹn Toàn/Ở đây thành hoàn tất/Cái Không Miêu Tả Được/Ở đây đã hình thành/Cái Tính nữ vĩnh hằng/Nâng ta lên cao mãi”[ Goethe, Johann Wolfgang von (2015), Faust (Quang Chiến dịch), Văn học-Nhã Nam, Hà Nội, tr.508]. Tính nữ Vĩnh hằng, theo quan niệm của Goethe, thuộc về thiên tính nữ, chứa đựng khát vọng vươn tới cái cao cả nhất, tốt đẹp nhất, đạt tới sự hoàn thiện lý tưởng. Goethe cho rằng, Tính nữ Vĩnh hằng giúp điều chỉnh thế giới của đàn ông (tính nam vĩnh cửu) nhờ năng lực quyến rũ bộc lộ qua tình yêu. Trong bài Viết về Goethe (1835), K.G.Carus giải thích hình tượng Tính nữ Vĩnh hằng được Goethe sử dụng như là việc “người nam đang hừng hực sức sống” đến được với bản nguyên nữ “dịu hiền, khởi sắc” nhờ bản năng trong tình yêu mà làm tiêu tan thói ích kỷ của đàn ông[ Усманова Л.Р. (2013), “Внутренние и внешние источники понимания Вечной Женственности в русской философии”, Известия ВГПУ, №8 (83), 2013, C.35 ]. Nguyên mẫu của hình tượng Tính nữ Vĩnh hằng của Goethe là Đức mẹ Đồng Trinh Maria nhân từ và nàng Beatrice trong Hài kịch thánh thần của A.Dante. Theo V.K.Kantor, “tư tưởng Tính nữ Vĩnh hằng ở phần kết thúc Faust của Goethe chính là tinh hoa chắt lọc từ kinh nghiệm lịch sử đời sống tinh thần của thế giới. Faust chứa đựng rất nhiều ẩn dụ Kitô giáo, đặc biệt là ở cảnh kết thúc, khi Đức Mẹ cùng với các thiên thần đã nâng linh hồn bất tử của Faust lên”[ Владимир Кантор (2003), “Вечно женственное” и русская культура”, Октябрь, 2003, №11. http://magazines.russ.ru/october/2003/11/kantor-pr.html].
Tính nữ Vĩnh hằng đã trở thành một siêu văn bản. Thời Trung cổ, sự sùng bái Tính nữ Vĩnh hằng đã hòa trộn với sự tôn thờ Đức Mẹ đồng trinh. Sau Goethe, hình tượng này cũng được nhiều triết gia, nhà thơ và nhà văn sử dụng, trở thành biểu tượng phổ quát về bản nguyên nữ tính cao cả, kết tinh vẻ đẹp, sự hài hòa của thế giới và sự hiện thân minh triết của Chúa. Sự sáng tạo có thể bao gồm cả việc biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Tính nữ Vĩnh hằng, cũng có thể được lấy cảm hứng từ tình yêu đối với phụ nữ nói chung. Trong văn học Nga, các nhà văn thế kỷ XIX đã phát hiện ra trong các “tiểu thư phố huyện” (Pushkin) có năng lực tình yêu đích thực dẫn đến Tính nữ Vĩnh hằng. Vào đầu thế kỷ XX, tư tưởng về Tính nữ Vĩnh hằng rất phổ biến trong giới trí thức Nga “Thế kỷ Bạc”[ Клинг, Олег (2009), “Мифологема “Ewige Weiblichkeit” (Вечная Женственность) в гендерном дискурсе русских символистов и постсимволистов”. Пол. Гендер. Культура: Немецкие и русские исследования (Под ред. Э.Шоре, К.Хайдер, Г.Зверевой). Москва. РГГУ. 438-452.]. Các nhà triết học tôn giáo V.Solovyev, P.Florensky, S.Bulgakov,… đã phát triển tư tưởng Minh triết của Chúa ở phương diện triết học và thần học. Trong triết học tôn giáo của V.Solovyev, khái niệm Tính nữ Vĩnh hằng được đồng nhất với khái niệm sự Hiền minh của Thánh nữ Sofiya, bắt nguồn từ việc tham chiếu sự anh minh của Chúa trong Dụ ngôn Thánh kinh Solomon. V.Solovyev cho rằng nó là “hình ảnh về sự thống nhất của thế giới dưới cái nhìn của Chúa” và bản thân ông cũng đã viết nhiều bài thơ dành cho hình ảnh thần bí của nó[ Dẫn theo: Махов А. Е. (2001), “Вечная женственность”, Литературная энциклопедия терминов и понятий Николюкин А.Н. (Глав.Ред. и сост.), Москва., НПК “Интелвак”, С. 119]. Trong văn hóa “Thế kỷ Bạc” một trong những motif cơ bản là “motif cổ mẫu Người nữ-Người mẹ, Đấng Cứu Thế, Kẻ Bảo Trợ, Người giữ gìn bí ẩn duy trì giống người”[ Như trên, C.121].
Tư tưởng về Tính nữ Vĩnh hằng đã được hiện thực hóa trong nhiều tác phẩm của các nhà văn Nga, làm bừng sáng tinh thần Nga từ Pushkin đến Lermontov, Gogol, Tyutchev, L.N.Tolstoy, Dostoevsky, Turgenev, Leskov, Chekhov, trong đó F.Dostoevsky và L.Tolstoy được coi là “sứ giả của Tính nữ Vĩnh hằng”[ Андреев, Д. 2005. Роза мира, Москва. “Мир Урании”, http://lib100.com/way/roza_ mira/html/.]. Sự tôn sùng Tính nữ Vĩnh hằng liên quan mật thiết với tư tưởng Cứu thế trong văn hóa Nga.
Thuyết/tư tưởng Cứu thế[ Tiếng Anh: Messianism; tiếng Nga: Мессианизм/Мессианство.] là một học thuyết tôn giáo về sự giáng thế của thiên sứ nhằm thiết lập công lý, hòa bình và sự an lành trên trái đất. Thuyết Cứu thế không chỉ thuộc về Kitô giáo mà còn có trong nhiều tôn giáo trên thế giới. Trong tôn giáo học hiện đại, người ta cho rằng sự xuất hiện của thiên sứ liên quan đến những vấn đề xã hội không thể giải quyết được, gắn với việc mất niềm tin vào tương lai tốt đẹp… Thuyết Cứu thế có cơ sở tồn tại thuận lợi trong các dân tộc và nhóm tộc người bị đàn áp, sách nhiễu cho nên nó hấp dẫn với các tín đồ Kitô giáo trong thời kỳ họ bị Đế quốc La Mã đàn áp. Theo Kitô giáo, sự giáng thế lần thứ hai của Jesus Christ sẽ đem đến Phiên tòa Khủng khiếp (Ngày phán xử cuối cùng) nhằm trừng phạt kẻ ác và tưởng thưởng cho những người chính trực.
Ở nước Nga, ảnh hưởng văn hóa-lịch sử của tư tưởng Cứu thế về cơ bản đã quy định sự phát triển của bản sắc Nga. Trong thế kỷ XIX đã có sự hồi sinh những quan niệm truyền thống về vai trò lịch sử toàn thế giới của nước Nga do những thành tựu mới đạt được về chính trị, văn hóa của đất nước. Có một điều thú vị là tư tưởng Cứu thế Nga lại gần gũi với quan niệm của nhà chính trị học người Pháp Alexis de Tocqueville (1805-1859). Trong tác phẩm Nền dân trị ở Mỹ (1935), Tocqueville viết: “Hiện giờ, trên thế giới có hai dân tộc lớn, họ có những điểm xuất phát không giống nhau nhưng dường như sẽ tiến tới cùng một mục đích, đó là người Nga và người Mỹ. Theo một sự sắp đặt thần bí nào đó của Thượng đế, một ngày nào đó mỗi dân tộc này sẽ nắm trong tay vận mệnh của một nửa nhân loại”[ Gaddis, J.L. (2009). Giờ chúng ta mới biết. Suy nghĩ lại về lịch sử Chiến tranh Lạnh, (Sách lưu hành nội bộ), Đại học Quốc gia Hà Nội. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tr.11.].
Theo M.Sarkisyants, trong số nhiều phiên bản về sứ mệnh toàn thế giới của Nga có thể xác định 4 phiên bản sau: 1) Phiên bản tôn giáo-đạo đức: các tín đồ của phiên bản này, cũng giống như F.Dostoyevsky và những người sùng Slav trước đây, đã tập trung vào chức năng cứu rỗi về mặt đạo đức, tinh thần của dân tộc Nga theo Chính thống giáo đối với phần còn lại của thế giới; 2) Phiên bản văn hóa-lịch sử: N.A.Danilevsky, K.N. Leontiev và những người đồng tư tưởng chủ trương nhìn nhận sứ mệnh của Nga trong việc phát triển kiểu văn minh nguyên gốc, có thể khuyến khích sự phát triển các nền văn hóa dân tộc trên toàn thế giới và chống lại sự bành trướng toàn cầu của phương Tây; 3) Phiên bản kinh tế-xã hội: tiếp bước A.I. Gertsen, gắn nước Nga và nhân dân Nga với niềm hy vọng vào sự giải phóng triệt để nhân loại ra khỏi bất công xã hội, bóc lột giai cấp; 4) Phiên bản Mạt thế: các tác giả của phiên bản này cho rằng nước Nga có thiên chức hiện thực hóa nơi trần thế ý nghĩa tôn giáo rốt ráo nhất của lịch sử, thực hiện giáo quyền toàn thế giới (Vladimir Solovyov), hoặc, theo học thuyết của N.F. Fedorov, tạo ra một vương quốc của Chúa nơi trần thế, có thể thực mục sở thị, nhờ tiến bộ của khoa học và kỹ thuật mà chiến thắng cái chết, và phục sinh các bậc tổ tiên đã chết trước đó[ Có thể thấy ảnh hưởng của thuyết Mạt thế trong tác phẩm của cả các nhà văn Nga thế kỷ XX. Chẳng hạn, tư tưởng về khả năng vượt qua cái chết hoặc những giới hạn khả năng của con người in đậm dấu ấn trong các tác phẩm không tưởng của Aleksandr Belyaev (1884-1942): Tiểu thuyết Cái đầu của giáo sư Dowell (1925), Người cá (1928), Bột mì vĩnh cửu (1928); hoặc sự thông diễn theo phong cách giễu nhại tư tưởng đó trong các truyện phản không tưởng của M.Bulgakov (1891-1940): Những quả trứng định mệnh (1924), Trái tim chó (1925);… ]. Trong số bốn phương án kể trên, chúng tôi cho rằng kiểu nhân vật nữ-thiên sứ trong văn học cổ điển Nga thuộc về phiên bản tôn giáo-đạo đức.
Khi nghiên cứu về phụ nữ Nga dưới góc độ văn hóa, trong công trình Những khuôn mặt phụ nữ Nga, V.Kardapoltseva đã chia ra ba kiểu hình tượng phụ nữ Nga dựa trên ứng xử của họ trong các lĩnh vực quan hệ tình yêu, gia đình và xã hội. Đó là các kiểu phụ nữ truyền thống, phụ nữ-anh hùng và phụ nữ-quỷ cái. Những phụ nữ truyền thống chú tâm vào việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, gánh vác toàn bộ việc nhà với đặc tính yêu thương, nhẫn nại và tận tụy hi sinh. Kiểu phụ nữ-anh hùng trong lĩnh vực hoạt động xã hội là những người được coi mang sẵn “chất đàn ông” - những phụ nữ-chiến binh, phụ nữ-nhà khoa học và những người có “trái tim nhiệt huyết”. Họ phá bỏ những tiêu chuẩn ứng xử thông thường của phụ nữ, có khát vọng mãnh liệt về tự do, mong muốn tự khẳng định mình. Kiểu phụ nữ-quỷ cái là những kẻ thích gợi tình, làm tàn hại cuộc đời đàn ông.
Trong văn học cổ điển Nga, có thể thấy chiếm số đông là những nhân vật thuộc về kiểu phụ nữ truyền thống[ Tatyana Larina (Evgenii Onegin) của A. Pushkin, Sonya Marmeladova (Tội ác và hình phạt) của F.M. Dostoevsky, Natasha Rostova (Chiến tranh và hòa bình), Dolly và Kitty (Anna Karenina), Katyusha Maslova (Phục sinh) của L.Tolstoy, Grushenka (Kẻ giang hồ quyến rũ) của N.S. Leskov, Lisa Kalitina (Tổ quý tộc) và Elena Stakhova (Đêm trước) của I.S.Turgenev, Lizaveta Aleksandrovna (Câu chuyện bình thường) của I.A. Goncharov,... Thuộc về kiểu thứ hai có Katerina Kabanova (Giông tố) và Larisa Ogudanova (Cô dâu) của N.A.Ostrovsky, Vera Pavlovna (Làm gì?) của N.Chernyshevsky, Liza Volchaninova (Ngôi nhà có gác xép) của A.Chekhov. Có thể xếp vào kiểu phụ nữ-quỷ cái là các nhân vật Zinaida và Asya (Mối tình đầu) của I.Turgenev, Katerina và phần nào Grushenka (Anh em nhà Karamazov), Nastasya Filippova (Chàng ngốc) của F.Dostoevsky, Olga Ivanovna (Người đàn bà phù phiếm) của A.Chekhov,…], kể cả nữ chính hay phụ. Do đó, trong tương quan với nhân vật nam, chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trên bình diện chiến lược trần thuật. Các câu chuyện xảy ra có sự hiện diện của nhân vật nữ được nhà văn kể lại là nhằm thể hiện một cách tri nhận sự thật cuộc sống hơn là bản thân câu chuyện. Cái nguyên tắc coi hiện thực thực tế là tiêu chuẩn cao nhất của chân lý đã không hoàn toàn bất di bất dịch đối với truyện kể Nga. Các nhà nghiên cứu thường dẫn ra một ví dụ đã trở thành kinh điển trong Tội ác và hình phạt để chứng minh sự kiện và sự thật không phải bao giờ cũng đi cùng với nhau. Raskolnikov thực tế đã giết người nhưng đó hoàn toàn không phải là hiện thực tinh thần, mà hành động của anh ta có sự dẫn dắt của ma quỷ. Điều này “mắt trần” không thấy nhưng lại có thể thấy dưới góc nhìn những thế lực/dục vọng đen tối đã biến anh ta thành công cụ mù quáng: chuyện giết người không nói lên được ý nghĩa của chân lý. Thực tế này cũng hoàn toàn phù hợp với quan niệm của L.Tolstoy được ghi trong nhật ký ngày 01/05/1903 của ông: “Chẳng có những sự kiện nào hết. Chỉ có cách chúng ta tri nhận chúng mà thôi”[ Толстой, Л.Н. (1985). Chính vì thế mà ở phần kết thúc Tội ác và hình phạt, sau điều kỳ diệu về sự phục sinh hoàn toàn trong cuộc sống mới, có những dòng về Raskolnikov: “Tất cả, ngay cả tội ác của chàng, ngay cả cuộc xét xử và án đày của chàng, giờ đây, trong phút say sưa ban đầu, chàng có cảm giác như đó là những sự kiện gì bề ngoài, xa lạ, thậm chí không liên quan gì đến chàng nữa”[ Dostoevski, F.M. (2012), Tội ác và hình phạt (Phạm Mạnh Hùng dịch), Moskva-Lokid Premium, tr.501.]. Cũng với tinh thần đó, “sự kiện” Napoleon cũng không quan trọng xét về phương diện chân lý tinh thần tối thượng. Chính L.Tolstoy đã khẳng định qua con mắt của Andrey: “…tất cả những điều Napoléon quan tâm đều vô nghĩa quá, ngay bản thân con người mà chàng sùng bái trong khi huênh hoang mừng rỡ về trận thắng, cũng nhỏ bé quá so với bầu trời cao cả, công minh và hiền hậu mà chàng đã thấy, đã hiểu”[ Tolstoy, L.N. (2007), Chiến tranh và hòa bình. tập 3, Hà Nội, NXB Văn học, tr.323.]. Về phương diện này, ngôn ngữ hình tượng của F.Dostoevsky và L.Tolstoy chưa bao giờ gắn với việc miêu tả một hiện thực “khách quan” cụ thể nào, mà nhà văn tái tạo thế giới mang giá trị hiện thực theo “nghĩa cao cả nhất” của từ này. Sẽ không thể nào hiểu được cái hiện thực cao cả đó ở các nhà cổ điển Nga nếu không tính đến tư tưởng Cứu thế Chính thống giáo. Mà đặc điểm của tư tưởng Cứu thế Nga, theo N.Berdyaev là sự dư thừa nữ tính và thiếu hụt phần nam tính. Song cái phần “dư thừa” đó trong trường hợp này lại là lợi thế cho sự sáng tạo bởi “Nữ tính của những người Slav khiến cho họ nhạy cảm đến thần bí, có khả năng lắng nghe những vang động sâu xa của nội tâm”.
Các nhà văn cổ điển Nga không chăm chú vào việc miêu tả hiện thực hữu hình cũng như không tập trung khám phá tính sự kiện gắn với những biểu hiện của nhân vật chính. Nhưng vì văn học cổ điển Nga dẫu sao cũng chiếm lĩnh một “thực tế” cụ thể nên cái duy nhất mà nó kiếm tìm trong đó là “ý nghĩa cao cả”, những dấu hiệu tiềm ẩn của một tồn tại khác, vì thế hiện thực của sự vật bao giờ cũng hiển thị một cách tượng trưng, khái quát. Ở đây, đối tượng thực sự không bao giờ là cái thường ngày nằm ngoài lịch sử tâm hồn của nhân vật, bị loại ra khỏi con người bên trong của nó. Nhờ vậy mà truyện kể của Nga ngay cả khi nói về chuyện “dưới đất” thì thực tế bao giờ cũng là nói về chuyện “trên trời”.
Với ý nghĩa đó, hệ hình tư duy của văn học Nga phụ thuộc vào điểm nhìn tư tưởng-tinh thần, dẫn đến logic vận động của nhân vật. Quá trình phát triển của nhân vật chính thường bắt đầu từ những biểu hiện bề ngoài (chân dung, cử chỉ, lời nói) đến những biểu hiện bên trong (những suy niệm tích cực). Nói cách khác, nhân vật chính vượt qua tất cả “tiêu chuẩn” của niềm kiêu hãnh được mặc định bởi địa vị xã hội của nó để cuối cùng thì nhún nhường, gần như chấp nhận dạng thức nô lệ: Onegin kiêu ngạo ngày nào đã quỳ trước Tatyana mà sám hối; Pechorin kiêu hãnh xưa kia đã nức nở hối hận khi mất Vera; “siêu nhân” Raskolnikov đã khóc và phủ phục dưới chân Sonya; công tước Andrey sáng láng và kiêu hãnh đã mềm lòng khóc trước nỗi đau khổ của con người,…[ Về việc coi văn học cổ điển Nga như là một không gian hình tượng và tư tưởng thống nhất, tức là xem nó như là một văn bản thống nhất, hoàn chỉnh chứ không phải là sự tập hợp máy móc những tác phẩm và tác giả khác nhau, xin xem, chẳng hạn: Нейчев Н.М. (2007), “Русская литературная классика как текстовая целостность в библейском контексте”, Эволюция форм художественного сознания в русской литературе. Выпуск 2. Классическая словесность и религиозный дискурс (Проблемы аксиологии и поэтики).Сборник научных статей. Екатеринбург: Издательство Уральского университета (2007), С.11-24; Александр Мень (1995), "Библия и русская литература ХIХ века. Беседа 1, Беседа 2", Мировая духовная культура, Нижегородская ярмарка, http://palomnic.org/bibl_lit/bibl/men/19_v/]. Như vậy, các nhân vật chính trong văn học cổ điển Nga dần dần rời bỏ những giới hạn của cuộc sống trần thế để sống trong lịch sử tinh thần. Dường như tất cả đã kết thúc nhưng trên thực tế chỉ kết thúc một truyện kể cụ thể bằng ngôn từ, bởi trong tâm hồn độc giả vẫn tiếp tục một truyện kể thầm lặng phi ngôn từ, rất giống với ngôn ngữ suy niệm của Kinh Thánh.
Liên quan đến điểm nhìn tư tưởng-tinh thần là vai trò chủ yếu của nhân vật phụ, thậm chí là không xuất hiện trên văn bản như “lão Platon” trong Anna Karenina của L.Tolstoy (chỉ được mọi người nhắc đến chứ chưa từng xuất hiện như một nhân vật có thật, nhưng chính lão lại nói về ý nghĩa thực sự của cuộc sống con người), Ivan Groznyi trong vở kịch Boris Godunov của A.Pushkin (chỉ là cái bóng trên sân khấu), Quan thanh tra trong vở kịch cùng tên của N.Gogol (chỉ qua tin đồn). Thành thử đóng vai trò chi phối về mặt tinh thần, “chuyên chở” thông điệp tư tưởng-thẩm mỹ của các tác phẩm thường không phải là những nhân vật chính thông minh, hấp dẫn, mà lại là những nhân vật phụ hiền lành, yếu đuối, bị lăng nhục và chà đạp, khó nhận biết, nhưng nếu thiếu chúng thì những nhân vật chính lầm lạc không được cứu vớt[ Đảm nhận vai trò này là những nhân vật phụ như nhũ mẫu của Tatyana Larina (Evgeni Onegin), “người kozac” (Người con gái viên đại), Maksim Masimych (Một anh hùng thời đại), Platon Karataev (Chiến tranh và hòa bình), cậu bé Ilyusha Snegirev (Anh em nhà Karamazov),…]. Thực ra, những nhân vật phụ này chỉ “nhỏ bé” trên bình diện hiện thực trần thế, còn trên bình diện vũ trụ chúng lại là nhân vật “được chọn”, phù hợp với những lời trong Phúc Âm: “Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt, không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có”[ Kinh Thánh, sđd, tr. 2126.].
Từ góc độ thuyết Cứu thế Chính thống giáo, những nhân vật nữ, tuy chủ yếu là những nhân vật phụ, nhưng lại chiếm vai trò chủ đạo trong không gian văn học cổ điển Nga. Trong văn học Nga, nhân vật nữ có thể có địa vị xã hội và trí tuệ cao, nhưng cũng có thể ở dưới đáy xã hội, bị lăng nhục và chà đạp, bất hạnh nơi trần thế. Nhưng tất cả những điều này không quan trọng bởi vì chính nhân tố nữ - “Tính nữ Vĩnh hằng” đã dung chứa vai trò cứu rỗi không chỉ đối với nhân vật nam mà cả thế giới nói chung. Việc Onegin chia tay với Tatyana (với “tâm hồn Nga”), Pechorin chia tay với Vera, các nhân vật của I.Turgenev chia tay với người yêu, một mặt khiến cho cuộc sống của họ trở nên vô nghĩa, mặt khác dẫn đến sự tự nhận thức bản thân và thái độ khiêm nhường sau những nếm trải cô đơn và đau khổ. Nhưng sự thắng lợi tinh thần tối thượng sẽ chỉ có được khi mà Tính nữ Vĩnh hằng được hồi đáp và thực hiện sứ mệnh của mình qua hình tượng những nhân vật nữ mang nhân cách-thánh thể: anh sinh viên Raskolnikov coi mình là chúa đã được cứu rỗi bởi nàng Sonya ngoan hiền (Tội ác và hình phạt), anh chàng hư vô chủ nghĩa Arkadi Kirsanov cũng được cứu rỗi bởi cô Katya khiêm nhu (Cha và con); chàng Pier Bezukhov rốt cuộc cũng tìm ý nghĩa cuộc sống nhờ nàng Natasha vợ mình (Chiến tranh và hòa bình), Dmitri Karamazov trên con đường lưu đày đã tìm được điểm tựa là nàng Grushenka (Anh em nhà Karamazov). Chức năng cứu rỗi không thể thay thế của bản nguyên nữ đó được biện giải trong Kinh Thánh: thế giới bị phá hủy bởi Eva và nó sẽ lại được cứu vớt bởi một người phụ nữ khác - một Eva mới là Đức Mẹ, người sinh ra Đấng Cứu Thế[ Chi tiết về sự ra đời của Jesu-Đáng Cứu Thế, xin xem: Kinh Thánh, sđd, tr.1845-1846 (Tin Mừng theo thánh Mathew 1: 15-25).
Kết luận
Cơ chế hình tượng hóa Tính nữ Vĩnh hằng qua các nhân vật nữ mang chức năng cứu thế (một sự hình tượng hóa theo cấp số nhân, bởi khởi đầu Tính nữ Vĩnh hằng đã là một hình tượng!) đã góp phần định tính mô hình nhân cách-thánh thể và mô thức văn học cổ điển Nga, trong đó tinh thần ưu thắng so với vật chất, hiện thực mang tính chất mặc khải, nhân vật chính hoàn toàn bị giải thiêng, nhân vật phụ cứu vớt tất cả, sứ mệnh cứu thế của bản nguyên nữ được nhấn mạnh. Do vậy hình tượng nhân vật nữ trong các tác phẩm của văn học cổ điển Nga có sự phát triển đáng kể, dịch chuyển dần vào trung tâm, trở thành đại diện lý tưởng của tác giả. Hình tượng phụ nữ đã được các nhà văn làm cho phong phú thêm bởi ở đó dung chứa nhiều vấn đề đạo đức, triết học và xã hội, và quan trọng hơn, mang dấu hiệu căn cước dân tộc Nga. Dĩ nhiên, Tính nữ Vĩnh hằng là một siêu văn bản với khả năng mở rộng vô cùng nên chỉ riêng văn bản văn hóa Nga không thể lấp đầy. Chính điều này mở ra khả năng cho những nghiên cứu so sánh Tính nữ Vĩnh hằng ở những nền văn hóa Kitô giáo khác.
Tài liệu tham khảo
1.Berdyaev N.A. (2015), Con người trong thế giới tinh thần (Nguyễn Văn Trọng dịch), Tri thức, Hà Nội.
2.Dostoevski F.M. (2012), Tội ác và hình phạt (Phạm Mạnh Hùng dịch). Moskva-Lokid Premium.
3.Gaddis J.L. (2009). Giờ chúng ta mới biết. Suy nghĩ lại về lịch sử Chiến tranh Lạnh, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Sách lưu hành nội bộ).
4.Goethe J. W. (2015), Faust (Quang Chiến dịch), Văn học-Nhã Nam, Hà Nội.
5.Kinh Thánh. Trọn bộ Cựu ước và Tân ước. NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
6.Tolstoy L.N. (2007), Chiến tranh và hòa bình. T.3, NXB Văn học, Hà Nội.
7.Андреев Д. (2005). Роза мира, Москва. “Мир Урании”, http://lib100.com/way/roza_ mira/html/
8.Бердяев Н. (1990), Судьба России: Сборник статей (1914 - 1917), Советский писатель, Москва, http://lib.ru/RISTIAN/BERDQEW rossia.txt_with-big-pictures. html#
9.Бердяев Н. Л. (1994), “О “вечно бабьем” в русской душе, Философия творчества, культуры, искусства: в 2 т.
10.Еникеев М.И. (1999), Общая и социальная психология, Москва.
11.Зенько Ю.М. (2009), Основы христианской антропологии и психологии, СПб.: Речь, http://www.xpa-spb.ru/slov/
12.Кантор В. (2003), “Вечно женственное” и русская культура”, Октябрь 2003, №11. http://magazines.russ.ru/october/2003/11/kantor-pr.html
13.Кардапольцева В.Н. (2000), Женские лики России. Екатеринбург. Гуманитарный Университет.
14.Клинг О. (2009), “Мифологема “Ewige Weiblichkeit” (Вечная Женственность) в гендерном дискурсе русских символистов и постсимволистов”. Пол. Гендер. Культура: Немецкие и русские исследования (Под ред. Э.Шоре, К.Хайдер, Г.Зверевой). Москва. РГГУ.
15.Махов А.Е. (2001), “Вечная женственность”, Литературная энциклопедия терминов и понятий Николюкин А.Н. (Глав.Ред. и сост.), Москва., НПК “Интелвак”
16.Николюкин А.Н. (главн. ред.) (2001), Литературная энциклопедия терминов и понятий, Интелвак, Москва
17.Саркисянц М. (2005), Россия и мессианизм. К “русской идее”
Н. А. Бердяева. Изд-во С.-Петербургского университета, http://www.redov.ru/istorija/rossija_i_messianizm_k_russkoi_idee_n_a_berdjaeva/p2.php
18.Современный толковый словарь изд. “Большая Советская Энциклопедия”, http://www.classes.ru/all-russian/russian-dictionary-encycl-term-14853.htm
19.Толстой Л.Н. (1985), Собрание сочинений в двадцати двух томах. T.22. Москва, Художественная литература, ttp://ruslit.traumlibrary.net/ book/tolstoy-ln-ss22-22/tolstoy-ln-ss22-22.html#work010
20.Усманова Л.Р. (2013), “Внутренние и внешние источники понимания Вечной Женственности в русской философии”, Известия ВГПУ, №8 (83), 2013
21.Хьелл П., Зиглер Д. (2008), Теории личности, 3-е изд., СПб.: Питер.




Comments