BI TRÁNG VÀ ĐỜI THƯỜNG: MÙI CỎ CHÁY VÀ MỘT KIỂU ĐIỆN ẢNH GIÀU CHẤT THƠ
- Minh Phạm
- Dec 29, 2021
- 9 min read
Thế nào là một bộ phim giàu chất thơ? Liệu “chất thơ” là một tính từ để miêu tả cảm xúc về bộ phim, hay nó là một danh từ để chỉ một phong cách làm phim? Và nếu “phim thơ” là một phong cách, thì phong cách ấy có những đặc điểm gì? Với “Mùi cỏ cháy”- một bộ phim xuất hiện nhiều bài thơ, liệu tác phẩm có thể xếp vào dòng phim thơ hay không?
Điện ảnh thơ đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử điện ảnh. Nhắc đến dòng điện ảnh này, người ta thường nhắc đến Alexander Dovzhenko và bộ phim “Earth” (1930) - một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Trong phim, xen kẽ những hình ảnh phim được kết nối với nhau theo trật tự nhân quả, nhà làm phim còn thêm vào những chi tiết tưởng chừng không liên quan đến mạch phim như khung cảnh thiên nhiên với cánh đồng, hoa hướng dương…, hoặc cố tình kéo dài chi tiết có vẻ không đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc tự sự, như cảnh phim mô tả các công đoạn trong quy trình sản xuất bánh mì. Chính những cảnh phim “trữ tình ngoại đề” này đã gợi nên những liên tưởng và cảm xúc mạnh mẽ cho người xem, và từ đó tạo nên “vẻ đẹp trữ tình”, hay chất thơ trong tác phẩm điện ảnh.

Earth (1930, Alexander Dovzhenko) - một tác phẩm điện ảnh thơ của Liên Xô
Trước khi đi tìm hiểu về điện ảnh thơ, chúng ta cần phải quay về với khái niệm niệm thơ trong văn học. Trong “Lí luận văn học”, khái niệm thơ được định nghĩa là “sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức”, bởi vậy mà “thơ không miêu tả sự vật bên ngoài, không kể các sự việc xảy ra mà chỉ biểu hiện các xúc động nội tâm, những tình cảm, những cảm nhận của con người trước sự việc, giúp ta hiểu con người ở bên trong”. Nói cách khác, ý nghĩa của thơ ca không nằm ở trên bề mặt văn bản, mà ở “những chỗ trống không viết ra, ở chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời”. Về phương diện nội dung biểu đạt là như vậy, còn về hình thức, thơ được tạo nên bởi những hình ảnh giàu tính biểu tượng. Và cũng chính sự giàu tính biểu tượng này góp phần làm nên tính liên tưởng trong thơ.
Với điện ảnh - loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp, chất thơ có nhiều điểm khác biệt, đặc biệt là ở phương diện ngôn ngữ biểu hiện. Chất thơ sẽ thể hiện thông qua những yếu tố thuộc về ngôn ngữ điện ảnh như dàn cảnh, dựng phim, quay phim, âm thanh… Bên cạnh đó, cũng như tác phẩm thơ ca, chất thơ trong điện ảnh phải gợi nên những cảm xúc, liên tưởng ở khán giả. Hay, nói như Macrcel Martin: “Người ta cảm nhận phim không chỉ bằng tai bằng mắt mà còn bằng cảm xúc và trái tim. Và như Xuân Diệu từng viết: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn, không hiểu vì sao ta buồn”, cảm xúc của con người luôn khó nắm bắt. Chúng ta có thể xúc động trước những hình ảnh phim cao cả, bi tráng, như cảnh người nông dân trong “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” khi bị tra tấn vẫn hiên ngang nói “Tao quỳ nửa đời người rồi, đã đứng lên được là không quỳ xuống nữa”. Chúng ta cũng có thể xúc động trước những cảnh phim bình dị, đời thường, như khung cảnh những người lính trong “Mùi cỏ cháy” tếu táo hát: “Ta là con của bố ta mẹ ta, nhớ nhà là ta trốn ta về”. Hoặc đôi khi, chúng ta xúc động với hình ảnh phim gợi lên những ký ức cả nhân mà ta chẳng thể lý giải nổi. Một tác phẩm điện ảnh thơ thành công cần phải hiểu và đồng cảm được với sự dao động của những cung bậc cảm xúc ấy của con người, để từ đó biến từng hình ảnh phim thành những ngôn ngữ “giàu chất thơ”.
Một tác phẩm điện ảnh thơ xuất sắc đòi hỏi những nhà làm phim tinh tế bậc thầy. Thế nhưng, nhiều nhà làm phim bước chân vào điện ảnh thơ “vì cái nghèo”. Đạo diễn Nguyễn Văn Thông (đạo diễn phim truyện “Con chim vành khuyên”) từng chia sẻ: “Tôi bước chân vào điện ảnh thơ trước tiên là vì cái nghèo. Hầu hết những phim tôi làm đều gặp kinh tế eo hẹp. Không thể có được những diễn viên ngôi sao, nhiều bối cảnh lớn nhưng vẫn có thể nghĩ ra được những ý lớn trong những chi tiết tưởng là rất nhỏ. Thế là đẻ ra phương pháp làm phim thơ: trước hết chủ đề phim phải có tính khái quát cao. Kịch bản giản dị nhưng phải sâu, nhân vật ít nhưng phải điển hình, bối cảnh không phức tạp nhưng phải đẹp, hợp với hoàn cảnh nhân vật, đạo diễn có thể diễn tả cảm xúc của mình một cách tự nhiên phóng khoáng – những điều trên trở thành thói quen và rồi điện ảnh thơ đến lúc nào không biết…” [1]. Có thể thấy, điều kiện kinh tế eo hẹp thời kháng chiến là một trong những nguyên nhân khiến những bộ phim sản xuất vào thời kì này, đặc biệt là những tác phẩm lấy đề tài chiến tranh, đậm chất thơ. Và sau này, cả khi chiến tranh qua đi, chất thơ vẫn thấm đẫm trong các tác phẩm điện ảnh về chiến tranh. Trước 1975, chúng ta có các tác phẩm như: “Chung một dòng sông” (tác phẩm được coi như bộ phim cách mạng đầu tiên của Việt Nam), “Chị Tư Hậu”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”, “Em bé Hà Nội”,.. Đó đều là những bộ phim lấy chất thơ từ việc xây dựng hình tượng cao cả, bi tráng của người lính Cách mạng. Sau 1975, những bộ phim chiến tranh khai thác cả chất thơ trong con người cá nhân của người lính. Chúng ta hãy thử phân tích chất thơ “cá nhân” này trong bộ phim “Mùi cỏ cháy”.

Hình ảnh từ bộ phim "Em bé Hà Nội" (1974, Hải Ninh)
Bộ phim là hành trình 4 chàng thanh niên Hà Nội rời mái trường Đại học Tổng hợp để vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Họ là những sinh viên Văn khoa vào chiến trường mà “cũng hơi tiếc đời sinh viên, nhưng còn tiếc hơn nếu như trong đội ngũ của những người ra trận hôm nay lại không có mặt chúng em”. Được “chắp bút” bởi biên kịch, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, người cũng từng là sinh viên Văn khoa của Đại học Tổng hợp, không khó hiểu khi cả bộ phim thấm đượm chất thơ. Đó là những bài thơ mà nhân vật “Hoàng Khoa Văn” sáng tác trong suốt chặng đường từ khi sắp rời mái trường cho tới những giờ phút ác liệt nhất trên chiến trường. Vần thơ ấy hồn nhiên, pha chút tiếc nuối - “Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu/ Bài hát đầu xin hát về trường cũ” – Đó là cảm xúc của những chàng sinh viên ngồi trên giảng đường lần cuối trước khi lên đường ra trận. Vần thơ lúc lại như lời động viên tinh thần lẫn nhau cho đỡ nhọc trên chặng đường hạnh quân - “Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu/ Dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi nhỏ/ Trong những ba lô kia, ai dám bảo không có/ Một hai ba, giọng hát chú ve kim”. Ngay cả những giây phút ác liệt nhất, những vần thơ mặc dù đã thấm thía cái bàng hoàng của chiến trận, nhưng vẫn còn chút gì đó hiên ngang, không chịu khuất phục: “…Vết thương đỏ, viên đạn thì sáng chói/ Chiếc lá xanh kì lạ trút trong đời.” Từng đoạn thơ không lạc khỏi mạch truyện phim, mà luôn được lồng ghép hài hòa với không khí và sự phát triển của nhân vật. Nó tạo nên tiết tấu nhịp nhàng cho tác phẩm, khi thì làm “mềm” đi không khí phim sau những phân cảnh chiến đấu căng thẳng, lúc lại làm thúc đẩy những xung đột phim lên cao trào, cũng có lúc những câu thơ như dấu ba chấm, vừa như để kết lại bộ phim, nhưng cũng hàm ý về những cảm xúc còn bâng khuâng không thể nói hết thành lời: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi 20 thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.”
Bộ phim không xây dựng những hình tượng người lính mình đồng da sắt, “ra đi chẳng tiếc đời xanh”. Họ vẫn mang chút tiếc nuối, nhưng bàn chân vẫn cứ tiến bước ra trận. Chính điều này cũng góp phần làm nên chất thơ cho bộ phim: một chất thơ tỏa ra từ những con người cá nhân bình dị chứ không còn là kiến tạo của diễn ngôn sử thi. Trong giây phút đối mắt với mưa bom bão đạn, nỗi sợ - một cảm xúc bản năng của con người - vẫn trỗi dậy trong người lính. Dù có kinh qua hiểm nguy bao nhiêu lần, cái chết vẫn có sức nặng đối với người lính. Và khi ở cận kề với cái chết, những người lính lại nghĩ tới mẹ, lại thốt lên tiếng “mẹ ơi” - cái tiếng gọi đầu tiên, tiếng gọi bản năng nhất của mỗi con người. Mặt khác, dường như là phẩm chất của những chàng trai Hà Nội, những người lính đối diện với chiến tranh bằng cả tinh thần lạc quan. Họ hát những câu hát đối đáp trong phút quân địch đang ngừng bom. Họ giữ một con ve trong túi áo để chờ lúc chiến tranh kết thúc sẽ mang về tặng người bạn gái ở hậu phương. Và họ vẫn yêu, vẫn trao nhau lời hứa hẹn cùng với niềm tin sẽ gặp lại nhau khi chiến tranh qua đi. Từ đó, ta thấy chất thơ của “Mùi cỏ cháy” không chỉ đến từ nhịp điệu, tiết tấu phim mà đến từ cả tinh thần nhân văn của nhà làm phim. Ngay từ lúc kịch bản phim còn đang trong giai đoạn thai nghén, biên kịch, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm đã quyết tâm sẽ hoàn thành bằng được bộ phim này, để “không lỡ hẹn với vong linh của đồng đội đã nằm xuống[2]”. Với tinh thần ấy, “Mùi cỏ cháy” không chỉ là “bộ phim thơ” đầy xúc cảm của những sinh viên Văn khoa, mà đã trở thành tiếng nói đại diện cho tinh thần của cả một thời đại phải sống trong “vùng đất không tiếng gà cất gáy”, nhưng luôn gìn giữ tinh thần “Vết thương đỏ, viên đạn thì sáng chói/ Chiếc lá xanh kì lạ trút trong đời”.

Và cuối cùng, bộ phim dù là tác phẩm “điện ảnh thơ”, thì ngôn ngữ điện ảnh của phim vẫn luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Chất thơ không chỉ đến từ kịch bản, từ chủ đề mang tính khái quát, từ những câu thơ được đọc lên trong suốt bộ phim, mà phải đến cả từ từng tính toán khuôn hình, nhịp dựng... Như đã phân tích ở trên, chất thơ trong phim đến từ khả năng gợi liên tưởng của bộ phim. Hình ảnh bức tượng, Bờ hồ có thể chỉ là khung cảnh bình thường ngoài đời, nhưng khi xuất hiện trên phim, nó (phải) gợi nên những lớp nghĩa khác. Trong bộ phim, những người lính Hà Nội trước khi ra trận đã cùng chụp bức ảnh bên bức tượng một thiếu nữ ở cạnh Bờ hồ. Bức ảnh mà tay họ đặt lên ngực thiếu nữ đã được lôi ra ngắm vào đêm nghỉ ở doanh trại. Hình ảnh phim gợi lên những ẩn ức của người lính khi phải ra trận ở độ tuổi xuân. Sau này, khung cảnh bức tượng trắng còn xuất hiện trở lại nhiều lần mỗi khi một người lính ngã xuống. Bức tượng trắng nhỏ từng giọt máu đỏ, giờ đây lại mang hàm ý của sự trong trắng, thơ ngây mất đi, của một đời người đã hi sinh khi còn đang ở vào thời kì đẹp nhất. Và nếu như theo Lotman, “một bài thơ ngắn có thể chứa đựng thông tin vượt xa khả năng của những quyển sách dày của một văn bản không phải văn học”, thì một cảnh phim thơ cũng (cần) chứa đựng thông tin vượt xa khả năng của những khung cảnh thông thường. Khi những trường liên tưởng bắt đầu hoạt động, khi những cảm xúc được gợi lên, thì tác phẩm “điện ảnh thơ” [3] mới chính thức thành “thơ”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=20636
2. Văn Trương Minh (2006), “Nhà thơ tình, nhà biên kịch hai trong một con người”, Tạp chí Đại học quốc gia Hà Nội, 59-61.
Đức Minh (Ban điều hành CLB Điện ảnh)




Comments